Năm 2010, nhiều khả năng nền kinh tế vượt qua giai đoạn điều chỉnh và
tăng trưởng trở lại. Cùng với nền kinh tế, thị trường BĐS được dự báo
là có thể phục hồi.
Một khu dân cư mới đang được xây dựng ở Hà Nội.
Thị trường BĐS Việt Nam năm 2008 là năm điều chỉnh nội bộ nền kinh
tế sau năm tăng trưởng lớn 2007. Thị trường BĐS Việt Nam năm 2009 là
năm điều chỉnh do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới.
Năm 2010, nhiều khả năng nền kinh tế vượt qua giai đoạn điều chỉnh
và tăng trưởng trở lại. Cung với nền kinh tế, thị trường BĐS được dự
báo la có thể phục hồi.
Để thị trường có thể phục hồi vững chắc cần phải tiến hành đồng bộ
nhiều chính sách, trong đó có thể kể đến một số giải pháp chính sách
quan trọng:
Một là,
nghiên cứu ban hành Luật Đăng ký BĐS. Cho dù thời điểm co thể nhanh,
chậm tùy điều kiện và tình hình. Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực
tiễn Việt Nam đã chỉ ra rằng, BĐS cần phải được đăng ký. Chỉ khi được
đăng ký, BĐS mới có được những giá trị phải sinh.
Một trong những gia trị phải sinh là việc tạo ra nguồn vốn. Vì vậy,
cần nghiên cứu, ban hành luật này. Đồng thời cần sớm hoàn thiện khung
pháp lý về BĐS đảm bảo đồng bộ, thống nhất. Xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật để dễ dàng chuyển BĐS thành vốn đầu tư; tạo hệ thống
đăng ký BĐS thống nhất; công khai hóa hoạt động kinh doanh BĐS.
Hai là,
nghiên cứu, ban hành Luật về thị trường thế chấp thứ cấp. Đây là một
văn bản pháp luật quan trọng và cần thiết để từ đó làm cơ sở pháp lý
cho hệ thống ngân hàng có thể tạo nguồn vốn trung và dài hạn từ nguồn
vốn ngắn hạn do thế chấp BĐS tạo ra.
Để TTBĐS phát triển bền vững và hệ thống ngân hàng có thể tai trợ
một cách lành mạnh cho thị trường nay cần phải có một hệ thống thế chấp
thứ cấp mạnh và được quản lý tốt.
Ba là,
nghiên cứu, ban hành Luật về quỹ tiết kiệm BĐS. Về căn bản, mọi đối
tượng tham gia vào TTBĐS đều thiếu vốn. Vi vậy, quỹ tiết kiệm BĐS là
cầu nối trung gian giữa ngân hàng, công ty kinh doanh BĐS và nhóm người
cụ thể đó.
Điều rất quan trọng để mô hình này thành công là một hệ thống ngân
hang lành mạnh, một hệ thống công ty kinh doanh BĐS lành mạnh và một
nhóm chủ thể kinh tế có tiết kiệm trong nền kinh tế.
Bốn là,
nghiên cứu, ban hành Luật về các loại hình quỹ đầu tư BĐS. Đặc biệt cần
nghiên cứu, ban hành Luật về quỹ đầu tư tín thác BĐS. Đây là một loại
hình quỹ thành công ở rất nhiều quốc gia, đặc biệt từ những năm đầu thế
kỷ XX trở lại đây.
Hiện tại, Việt Nam cần có thời gian để hình thành và phát triển
những quỹ đầu tư tín thác BĐS này. Tuy nhiên, đã có những quỹ tín thác
đầu tiên đang được hình thành. Vi vậy, những năm tới, cùng với việc
trưởng thành của nền kinh tế, việc ra đời một văn bản pháp luật là cần
thiết để các quỹ đầu tư tín thác BĐS hoạt động.
Năm là,
nghiên cứu, ban hành văn bản pháp luật về trái phiếu BĐS. Việc phát
hành trái phiếu BĐS đã manh nha hình thành tại Việt Nam. Tuy nhiên, do
chưa có khung pháp lý nên việc mở rộng diện và đối tượng chưa thể triển
khai được.
Vì vậy, việc nghiên cứu, ban hành một văn bản pháp quy về vấn đề này
sớm hay muộn cũng là cần thiết để mở ra một luồng tài chính cho thị
trường. Hướng triển khai là Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài
chính ra Thông tư liên bộ cho thi điểm, nhân lên diện rộng và ban hanh
chính sách.
Sáu là,
nghiên cứu ban hành Luật Quy hoạch. Hiện có rất nhiều quy hoạch: quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy
hoạch phát triển đô thị, quy hoạch ngành.
Luật Quy hoạch phát triển đô thị đã được ban hanh; Luật Quy hoạch sử
dụng đất đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất nghiên cứu trong
Bộ Luật Đất đai; Nghị định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
đã được ban hành.
Vì vậy, cần thống nhất các quy hoạch vào một mối. Mà điều thống nhất
trước hết có thể thực hiện được là thống nhất về mặt luật pháp.
Bảy là,
nghiên cứu ban hành Luật về thông tin BĐS để xây dựng các chỉ số liên
quan đến thị trường. Triển khai tinh thử chỉ số giá nhà. Bước đầu la
tính thử, chỉnh sửa theo điều kiện Việt Nam, sau đó mở rộng, tinh cho
cả nước, các vùng, các tỉnh, thậm chí là các huyện quận, hoặc một
phường xã.
Căn cứ vào kinh nghiệm trên thị trường hàng hóa dịch vụ, vào đặc
điểm của hàng hóa BĐS, của thị trường BĐS cũng như đặc điểm thông tin
và giao dịch BĐS thời gian tới, cần xây dựng việc tính toán chỉ tiêu
đánh giá thị trường BĐS. Trong bối cảnh thị trường hiện nay, việc xây
dựng chỉ số thị trường BĐS mức độ hẹp là hiện thực hơn.
Tám là,
hình thành cơ quan đủ tầm quản lý thị trường BĐS. Lĩnh vực này không
đơn thuần là một ngành kinh tế kỹ thuật nên cần một số cơ quan nhà nước
đồng thời theo dõi và quản lý. Tuy vậy, cần có một cơ quan đầu mối quản
lý cấp nhà nước. Hiện Bộ Xây dựng là cơ quan có chức năng, nhiệm vụ
quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, cơ quan quản lý thực tế chỉ mới đặt tại một đơn vị cấp
cục. Điều này gây nên những bất cập về phạm vi và tầm quản lý. Bên cạnh
đó, Việt Nam đã có Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để quản lý thị trường
chứng khoán; có Tổng cục Quản lý Đất đai. Vi vậy, rất cần một cơ quan
đủ tầm để quản lý thị trường BĐS.
Chín là,
tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường BĐS. Thị trường BĐS có
những yêu cầu rất đa dạng về nguồn nhân lực (những nhà đầu tư, những
người môi giới, những nhà tư vấn, những nhà hoạch định chính sách...).
Vi vậy, rất cần có nhiều hơn nữa các khoa trong các trường đại học,
mà trước hết có thể đặt tại các trường kinh tế có chức năng và chuyên
môn đạo tạo cử nhân, sau đại học về chuyên ngành BĐS.